Kiến thức - Đăng bởi Tiến Tuần Tể 

[Tâm lý học] Dù bạn là ai với bản tính nào đều có thể được huấn luyện để trở thành bất cứ thứ gì

 2    0

[Tâm lý học] Dù bạn là ai với bản tính nào đều có thể được huấn luyện để trở thành bất cứ thứ gì

John B. Watson là người có đóng góp quan trọng cho thuyết hành vi cổ điển, mở đường cho thuyết hành vi cấp tiến hoặc mở rộng của B. F. Skinner, đã có tác động lớn tới hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ.

John B. Watson là ai?

Là giáo sư tâm lý học tại Đại học Johns Hopkins (1908-1920), Watson thường được liệt kê vào danh sách một trong những nhà tâm lý học có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20; thành tựu của ông là tài liệu tiêu chuẩn trong hầu hết các văn bản tâm lý học nhập môn và tâm lý học giáo dục. Tuy nhiên, sự nghiệp hàn lâm của ông rất ngắn ngủi, chỉ kéo dài trong mười bốn năm và di sản của ông được tranh luận sôi nổi trong gần một thế kỷ. Watson đã giúp xác định nghiên cứu về hành vi, dự đoán về công việc của Skinner - tập trung vào điều kiện hoạt động và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học tập cùng ảnh hưởng của môi trường tới sự phát triển của con người. Những lời chỉ trích gay gắt của Watson đối với Sigmund Freud đã được ghi nhận vì giúp phổ biến các nguyên tắc của phân tâm học Freud. Người ta biết đến Watson với nghiên cứu về Little Albert và câu nói “hàng tá trẻ sơ sinh khoẻ mạnh” của ông.

Phổ biến Thuyết Hành vi

John B. Watson thường được công nhận vì đã tạo ra và phổ biến thuật ngữ thuyết hành vi với việc xuất bản bài báo năm 1913 Tâm lý học dưới góc nhìn của những người theo thuyết hành vi. Trong bài báo, Watson cho rằng tâm lý học đã thất bại trong nỗ lực trở thành một ngành khoa học tự nhiên, phần lớn là do tập trung vào ý thức và các hiện tượng không thể nhìn thấy. Thay vì nghiên cứu những ý tưởng không thể kiểm chứng này, Watson khuyến khích nghiên cứu khoa học cẩn thận về hành vi có thể quan sát được. Quan điểm của ông về thuyết hành vi là một phản ứng đối với việc xem xét nội tâm, nơi mỗi nhà nghiên cứu đóng vai trò là đối tượng nghiên cứu của riêng mình và nghiên cứu về ý thức của Freud và những người khác mà Watson cho là rất chủ quan và phi khoa học.

Để trả lời cho việc xem xét nội tâm, Watson và những người theo thuyết hành vi thời đầu tin rằng các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm có kiểm soát là cách hiệu quả nhất để nghiên cứu việc học. Với cách tiếp cận này, việc thao túng môi trường của người học là chìa khoá để thúc đẩy sự phát triển. Cách tiếp cận này trái ngược với các kĩ thuật đặt trọng tâm vào việc học trong tâm trí người học. Bài báo năm 1913 thường được công nhận là đặt nền móng cho thuyết hành vi, nó có một tác động nhỏ sau khi xuất bản.

Nghiên cứu về Little Albert

Năm 1920, Watson và một trợ lý, Rosalie Rayner, đã công bố một trong những nghiên cứu nổi tiếng nhất của thế kỷ qua. Watson đã cố gắng điều chỉnh một phản ứng cảm xúc nghiêm trọng ở Little Albert, một đứa trẻ chín tháng tuổi. Watson nhận biết rằng những đối tượng có lông màu trắng chẳng hạn như chuột, thỏ và bông không tạo ra bất kỳ phản ứng tiêu cực nào ở em bé. Nhưng bằng cách ghép nối kích thích trung tính (màu trắng, động vật có lông trắng và đồ vật có màu trắng) với kích thích không điều kiện (tiếng động rất lớn) đã gây ra phản ứng không điều kiện (sợ hãi), Watson đã tạo ra một liên kết phản ứng kích thích mới: Khi Albert nhìn thấy màu trắng, những vật có lông, kích thích có điều kiện này tạo ra phản ứng sợ hãi có điều kiện. Ví dụ như khi cậu bé Albert vừa chạm vào chú chuột trắng (mà cậu bé thấy rất bình thường), Watson đập gậy - tạo ra một tiếng động lớn làm cậu bé giật mình và khóc thét. Thí nghiệm này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong hai tuần. Kết quả là, trong những lần sau, khi nhìn thấy chú chuột trắng, dù không có tiếng động gì nữa nhưng cậu bé Albert vẫn cảm thấy run sợ.

Nghiên cứu này thường được trình bày như một công trình nghiên cứu cụ thể cung cấp bằng chứng cho thấy ngay cả những hành vi phức tạp, chẳng hạn như cảm xúc, cũng có thể học được thông qua việc thao túng môi trường của một người. Do đó, nó đã trở thành tiêu chuẩn cho các phương pháp tiếp cận của những nhà nghiên cứu theo thuyết hành vi đối với việc học và vẫn được trích dẫn rộng rãi vào đầu thế kỷ 21 mặc dù ngày nay, cách thí nghiệm của Watson bị chỉ trích nặng nề.

Trẻ sơ sinh khoẻ mạnh

Đối với một nhà hành vi học, thao túng môi trường là cơ chế quan trọng để học tập (ví dụ như nghiên cứu Little Albert). Để chứng minh cho quan điểm này, Watson đã viết năm 1930: “Hãy trao cho tôi những đứa trẻ sơ sinh khoẻ mạnh và để tôi nuôi dưỡng chúng trong thế giới của riêng tôi, tôi đảm bảo với bất cứ đứa trẻ ngẫu nhiên nào, tôi có thể huấn luyện đứa bé đó trở thành bất kỳ kiểu chuyên gia nào mà tôi muốn - bác sĩ, luật sư, nghệ sĩ - bất kể tài năng, thiên hướng, khuynh hướng, khả năng, chủng tộc của tổ tiên đứa bé đó.” Câu nói này thường xuyên xuất hiện trong các văn bản giới thiệu về giáo dục và tâm lý học và được sử dụng để làm minh chứng cho các quan điểm cấp tiến về môi trường của các nhà hành vi học.

Nhưng câu nói trên chỉ là phần đầu của đoạn trích dẫn. Cũng trong tuyên bố đó, Watson sau đó đã viết: “Tôi đã vượt ra ngoài sự thật của mình và tôi thừa nhận điều đó, nhưng những người ủng hộ điều ngược lại cũng vậy và họ đã làm như thế trong hàng nghìn năm.” Câu nói thứ hai này hiếm khi được trích dẫn cùng với câu đầu tiên. Khi đưa câu trích dẫn này ra khỏi ngữ cảnh, các tác giả đã trình bày Watson và thuyết hành vi cổ điển có quan điểm cực đoan về tầm quan trọng của môi trường. Tuy nhiên, Watson đã phản ứng với công việc của các nhà tâm lý học và giáo dục khác, những người tin rằng di truyền chịu trách nhiệm duy nhất cho sự phát triển và học tập của con người. Các nhà hành vi học ban đầu nhấn mạnh vai trò của môi trường nhưng quan điểm của họ có lẽ không cực đoan như chúng thường được trình bày.

Theo State University

 
 
     Chia sẻ